Robert Green

Rob Green
Green năm 2010
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Robert Paul Green[1]
Ngày sinh 18 tháng 1, 1980 (46 tuổi)[2]
Nơi sinh Chertsey, Surrey, Anh
Chiều cao 6 ft 2 in (1,87 m)[2]
Vị trí Thủ môn
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1992–1999 Norwich City
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1999–2006 Norwich City 223 (0)
2006–2012 West Ham United 219 (0)
2012–2016 Queens Park Rangers 121 (0)
2016–2017 Leeds United 46 (0)
2017–2018 Huddersfield Town 0 (0)
2018–2019 Chelsea 0 (0)
Tổng cộng 609 (0)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
1997 Anh 1 (0)
1998 Anh 2 (0)
2006 Anh B 1 (0)
2005–2012 Anh 12 (0)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Robert Paul Green (sinh ngày 18 tháng 1 năm 1980) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Anh, thi đấu ở vị trí thủ môn. Ông từng thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng AnhFootball League, cũng như cho đội tuyển quốc gia Anh.

Green ra mắt đội một Norwich City vào năm 1999 và có tổng cộng 241 lần ra sân trên mọi đấu trường cho câu lạc bộ này, đồng thời được chọn vào Đội hình tiêu biểu của PFA khi đội vô địch First Division mùa 2003–04. Năm 2006, ông chuyển đến West Ham United, nơi ông cũng có cùng số lần ra sân trong sáu năm thi đấu, được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của đội vào năm 2008 và giành quyền thăng hạng thông qua play-off Championship trong năm 2012. Sau đó, ông chuyển đến Queens Park Rangers theo dạng tự do và một lần nữa giành chiến thắng ở play-off vào năm 2014. Tháng 7 năm 2016, Green gia nhập Leeds United theo hợp đồng một năm. Sau đó, ông lần lượt khoác áo Huddersfield TownChelsea trong mỗi đội một năm trước khi giải nghệ vào năm 2019.

Green từng đại diện cho Anh ở các cấp độ U-16, U-18đội B. Ông ra mắt đội tuyển Anh vào năm 2005. Green bị loại khỏi đội hình Anh dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 vì chấn thương nhưng góp mặt tại giải đấu năm 2010. Ông cũng có tên trong đội hình Anh dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Norwich City

Sinh tại Chertsey, Surrey, Green trưởng thành từ hệ thống đào tạo trẻ của Norwich City.[3] Ông ra mắt đội một tại First Division vào ngày 11 tháng 4 năm 1999, giữ sạch lưới trong trận hòa 0–0 ở derby East Anglia trước đối thủ Ipswich Town tại Carrow Road.[4] Thủ môn số một từ mùa giải 1997–98 vẫn là Andy Marshall — sau khi Marshall rời đội vào mùa hè năm 2001, Green có thể khẳng định mình là thủ môn lựa chọn số một của Norwich.[5]

Ông là một nhân tố nổi bật trong chiến dịch play-off mùa giải 2001–02, kết thúc bằng thất bại trước Birmingham City trên chấm luân lưu ở trận chung kết.[6]

Đến năm 2003, Green đã là nhân tố chủ chốt trong đội hình Norwich. Ông đóng vai trò quan trọng giúp Norwich giành chức vô địch First Division ở mùa giải 2003–04 và thăng hạng lên Giải bóng đá Ngoại hạng Anh.[7] Thủ môn số một của Norwich tiếp tục ra sân trọn vẹn, giữ sạch lưới thêm 18 trận và chỉ để thủng lưới 39 bàn trong 46 lần ra sân tại giải vô địch quốc gia. Green có nhiều màn trình diễn mang tính quyết định trong mùa giải. Những màn trình diễn được bầu là cầu thủ hay nhất trận này bao gồm các trận sân nhà gặp Derby CountyStoke City; ở trận sau, ông cản phá cú dứt điểm của Gerry Taggart. Phong độ ở đẳng cấp cao này giúp ông lần đầu được triệu tập vào đội tuyển Anh cho trận giao hữu vào tháng 3 năm 2004 gặp Thụy Điển.[8] Ông cũng được đưa vào Đội hình tiêu biểu của PFA mùa giải đó.[9]

Norwich xuống Championship ở mùa giải kế tiếp.[10] Green chỉ giữ sạch lưới 6 trận và để thủng lưới 77 bàn trong mùa giải Premier League, dù có nhiều màn trình diễn cá nhân xuất sắc. Huấn luyện viên đội tuyển Anh Sven-Göran Eriksson tiếp tục triệu tập Green vào các đội hình quốc tế nhờ năng lực của ông.

Sau khi xuống hạng, Norwich gặp khó khăn trong việc thích nghi trở lại với bóng đá Championship. Đây là mùa giải tệ nhất của Green trong vai trò thủ môn số một Norwich, khi ông chỉ giữ sạch lưới bảy trận trong 42 lần ra sân tại giải vô địch quốc gia. Green bỏ lỡ những trận cuối của mùa giải 2005–06 sau khi dính chấn thương trong lúc khởi động trước trận sân khách gặp Sheffield Wednesday. Tháng 8 năm 2006, Norwich chấp nhận đề nghị trị giá lên đến 2 triệu bảng từ West Ham United dành cho Green.[11]

West Ham United

Green thi đấu cho West Ham United năm 2006

Green ký hợp đồng bốn năm với West Ham United,[11] nơi ông tái ngộ cựu tiền đạo cắm của Norwich là Dean Ashton, người đã được bán cho West Ham vào tháng 1 năm 2006.[12] Green ra mắt West Ham ngày 19 tháng 10 năm 2006 trong thất bại 0–1 trước Tottenham Hotspur tại White Hart Lane.[13] Hai trong số những màn trình diễn hay nhất của ông là khi West Ham thắng Arsenal 1–0 tại Emirates[14] và trước Manchester United, nơi ông giúp đội giành chiến thắng 1–0,[15] qua đó giữ lại vị trí của West Ham tại Premier League.[16] Green giữ sạch lưới chín trận trong 26 lần ra sân tại giải vô địch quốc gia mùa đó.[17]

Trong mùa giải 2007–08, Green cản phá ba quả phạt đền đầu tiên mà ông đối mặt. Quả đầu tiên là trước Kevin Doyle của Reading,[18] quả thứ hai là trước Benjani của Portsmouth trong thời gian bù giờ,[19] và quả thứ ba là trước Jermain Defoe của Tottenham, cũng trong thời gian bù giờ.[20] Chuỗi này bị chấm dứt bởi James McFadden của Birmingham City vào ngày 9 tháng 2 năm 2008.[21] Ông thi đấu mọi trận và được bầu là Hammer of the Year của West Ham, khi đội kết thúc ở vị trí thứ 10 tại Premier League.[22]

Green khởi động cho West Ham United năm 2008

Trong mùa giải 2008–09, Green tiếp tục cản phá thêm một quả phạt đền nữa, lần này là trước Jason Roberts của Blackburn Rovers vào ngày 30 tháng 8 năm 2008; West Ham sau đó thắng trận 4–1.[23] Green thi đấu cả 38 trận tại giải vô địch quốc gia cho West Ham trong mùa giải đó, giữ sạch lưới mười trận.[17] Ông một lần nữa thi đấu cả 38 trận tại giải vô địch quốc gia cho West Ham trong mùa giải 2009–10, giữ sạch lưới tám trận và cản phá thêm một quả phạt đền, lần này là từ Ashley Young của Aston Villa trong chiến thắng 2–1.[17]

Green có 44 lần ra sân trên mọi đấu trường trong mùa giải 2010–11, giữ sạch lưới bảy trận.[17] Ông cản phá một quả phạt đền trong chiến thắng 3–1 trước Wigan Athletic tại Upton Park[24] và sau đó tiếp tục làm điều tương tự trước Stoke City trong thất bại 1–2 tại Cúp FA.[25] Ngày 19 tháng 3 năm 2011, Green có một pha cứu thua đẳng cấp thế giới trước cú đá phạt của Gareth Bale trong trận hòa 0–0 với Tottenham Hotspur tại White Hart Lane.[26] Ông đứng thứ hai sau Scott Parker trong cuộc bầu chọn Hammer of the Year.[27]

Green lần đầu bị truất quyền thi đấu trong sự nghiệp câu lạc bộ[28] trong trận gặp Blackpool ngày 21 tháng 2 năm 2012. West Ham không đăng ký thủ môn dự bị trong đội hình trận đó, buộc phải để tiền vệ Henri Lansbury bắt gôn trong phần còn lại của hiệp hai. Họ cuối cùng vẫn thắng 4–1.[29] West Ham sau đó kháng cáo thành công thẻ đỏ, giúp Green có thể thi đấu ở trận kế tiếp.[30] Ông thi đấu 42 trong 46 trận của West Ham tại Championship mùa giải 2011–12 và góp mặt trong trận chung kết play-off tại Wembley, nơi West Ham United giành chiến thắng để lập tức trở lại Premier League.[31][32] Tháng 6 năm 2012, sau khi West Ham và Green không đạt được thỏa thuận mới khi hợp đồng kết thúc, đồng chủ tịch David Gold thông báo Green rời câu lạc bộ.[33]

Queens Park Rangers

Green thi đấu cho Queens Park Rangers năm 2014

Green đạt thỏa thuận với Queens Park Rangers (QPR) vào ngày 21 tháng 6 năm 2012 và gia nhập theo dạng tự do vào ngày 1 tháng 7, theo hợp đồng hai năm.[34] Ông ra mắt ngày 18 tháng 8 năm 2012 trong thất bại 0–5 trên sân nhà trước Swansea City.[35] Green chỉ thi đấu thêm hai trận cho QPR trước khi huấn luyện viên Mark Hughes ký hợp đồng với tuyển thủ Brazil Júlio César;[36] dù Green vẫn bắt trận kế tiếp gặp Manchester City, đó chỉ là vì giấy phép lao động của Júlio César chưa hoàn tất,[37] và thủ môn người Brazil bắt chính trận tiếp theo gặp Chelsea ngày 15 tháng 9 năm 2012.[38]

Sau khi Hughes bị sa thải, huấn luyện viên mới Harry Redknapp thay Julio César bằng Green sau giờ nghỉ trong trận đầu tiên ông dẫn dắt đội, gặp Sunderland ngày 27 tháng 11 năm 2012. Green sau đó thi đấu năm trận kế tiếp.[39][40][41][42][43][44] rồi lại bị đẩy lên ghế dự bị[45] trong phần lớn bốn tháng sau đó, chỉ đá chính ba trận từ ngày 26 tháng 12 đến ngày 20 tháng 4,[46] gồm hai trận Cúp FA vào tháng 1, sau đó vào sân khi Júlio César chấn thương trong chiến thắng trước Southampton[47] và bắt trận kế tiếp khi thủ môn người Brazil hồi phục. Sau lần đá chính thứ ba liên tiếp của Green trong trận thua Arsenal,[48] Redknapp nói rằng trong phần còn lại của mùa giải ông "muốn sử dụng Rob Green" và Green "có lẽ sẽ là thủ môn của [ông] mùa sau", vì ông dự kiến Júlio César sẽ bị bán trong mùa hè.[49] Đầu mùa giải 2013–14, Green được chỉ định là thủ môn lựa chọn số một cho các trận mở màn mùa giải.[50] Green là thành viên của đội QPR giành chiến thắng trong chung kết play-off Championship 2014, thắng Derby County 1–0 tại Sân vận động Wembley ngày 24 tháng 5 năm 2014.[51]

Sau một mùa giải trở lại Premier League, QPR xuống hạng sau thất bại 0–6 trên sân Manchester City ngày 10 tháng 5 năm 2015, lần xuống hạng thứ tư của Green khỏi Premier League.[52] Trước đó trong mùa giải, vào ngày 26 tháng 12, ông cản phá một quả phạt đền sớm trong trận thua 1–2 trước Arsenal, sau khi đồng đội Eduardo Vargas chỉ ra hướng mà đồng hương Chile Alexis Sánchez nhiều khả năng sẽ sút.[53]

Sau khi bắt đầu mùa giải 2015–16 với tư cách thủ môn lựa chọn số một của QPR, Green bị loại khỏi đội hình xuất phát chỉ một trận sau khi huấn luyện viên mới Jimmy Floyd Hasselbaink đến, do một điều khoản trong hợp đồng sẽ tự động kích hoạt gia hạn nếu ông thi đấu 30 trận Championship.[54] Vì QPR muốn giảm quỹ lương, Green rời câu lạc bộ khi hợp đồng hết hạn vào cuối mùa giải 2015–16, sau khi thương vụ chuyển đến câu lạc bộ Premier League Crystal Palace đổ vỡ trong kỳ chuyển nhượng tháng 1.

Leeds United

Ngày 6 tháng 7 năm 2016, Green ký hợp đồng một năm với câu lạc bộ Championship Leeds United.[55] Ngày 7 tháng 8 năm 2016, Green ra mắt Leeds trong trận gặp QPR, thất bại 0–3, trong đó ông không thể đấm bóng từ một quả phạt góc, dẫn đến bàn phản lưới nhà của Sol Bamba.[56] Green là người hùng trận đấu kế tiếp ngày 10 tháng 8 năm 2016 tại Cúp Liên đoàn gặp Fleetwood Town, khi ông cản phá quả phạt đền của Eggert Jónsson bên phía Fleetwood trong chiến thắng 5–4 ở loạt luân lưu sau trận hòa 2–2 sau hiệp phụ.[57] Trận giữ sạch lưới đầu tiên của ông diễn ra ngày 20 tháng 8 năm 2016, trong chiến thắng 2–0 trước Sheffield Wednesday.[58]

Ngày 20 tháng 11 năm 2016, Green mắc sai lầm đáng chú ý khi để bóng rơi dưới xà ngang vào chân tiền đạo Dwight Gayle của Newcastle United, giúp cầu thủ này dễ dàng ghi bàn trong thất bại 0–2.[59] Ngày 17 tháng 12 năm 2016, Green giữ sạch lưới trận thứ tám tại giải vô địch quốc gia cho Leeds, qua đó cân bằng tổng số trận sạch lưới của Leeds trong toàn bộ mùa giải 2015–16 trước đó với người tiền nhiệm Marco Silvestri.[60]

Sau lần ra sân thứ 600 tại giải vô địch quốc gia, vào ngày 26 tháng 2 năm 2017, Green cản phá quả phạt đền của tiền đạo Jordan Rhodes bên phía Sheffield Wednesday trong chiến thắng 1–0 của Leeds.[61] Sau khi gây ấn tượng trong mùa giải đầu tiên tại câu lạc bộ, ngày 18 tháng 3 năm 2017, Green ký hợp đồng mới một năm với đội.[62]

Green bắt đầu mùa giải 2017–18 dưới thời huấn luyện viên trưởng mới Thomas Christiansen với tư cách thủ môn lựa chọn thứ hai của câu lạc bộ, sau tân binh Felix Wiedwald,[63] và có lần ra sân duy nhất trong mùa giải vào ngày 22 tháng 8 năm 2017, trong chiến thắng 5–1 của Leeds tại Cúp Liên đoàn trước Newport County.[64] Sau khi Leeds ký hợp đồng với Andy Lonergan ngày 27 tháng 8 năm 2017,[65] cùng ngày, Leeds đạt thỏa thuận chấm dứt hợp đồng với Green để ông chuyển đến đội bóng Premier League Huddersfield Town.[66]

Huddersfield Town

Ngày 27 tháng 8 năm 2017, Green ký hợp đồng với câu lạc bộ Premier League Huddersfield Town đến hết mùa giải 2017–18, sau khi hợp đồng của ông với Leeds United bị chấm dứt theo thỏa thuận chung.[67] Green không có lần ra sân nào cho đội một Huddersfield và đến tháng 5 năm 2018, câu lạc bộ thông báo rằng hợp đồng của ông sẽ không được gia hạn.[68]

Chelsea

Green ký hợp đồng với câu lạc bộ Premier League Chelsea vào ngày 26 tháng 7 năm 2018 theo hợp đồng một năm, nhằm dự phòng cho Thibaut Courtois, người sau đó được bán và thay thế bởi Kepa Arrizabalaga, cùng Willy Caballero.[69] Tháng 3 năm 2019, ông nói về việc làm thủ môn lựa chọn thứ ba, cho rằng "bạn không có cùng động lực như vậy" và "không có cùng sự cam kết về mặt thể chất hoặc tinh thần".[70]

Dù thậm chí không có tên trên ghế dự bị trong Chung kết UEFA Europa League 2019 hay bất kỳ trận đấu nào khác của Chelsea trong mùa giải, Green vẫn ăn mừng bằng việc nâng cúp Europa League sau khi Chelsea đánh bại Arsenal 4–1 vào ngày 29 tháng 5 năm 2019.[71]

Ngày 31 tháng 5 năm 2019, Green tuyên bố giải nghệ.[72]

Sự nghiệp quốc tế

Green (mang áo số 12) vào sân cùng Anh trước trận gặp Hoa Kỳ tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2010

Green lần đầu được triệu tập vào đội hình Anh vào năm 2004 khi đang thi đấu cho Norwich.[73] Ngày 31 tháng 5 năm 2005, ông trở thành cầu thủ Norwich thứ sáu khoác áo Tam sư khi vào sân thay David James sau giờ nghỉ trong chiến thắng giao hữu 3–2 trước Colombia tại Giants Stadium ở Hoa Kỳ.[74] Green vẫn có tên trong đội hình Anh dù Norwich đã xuống Championship vào năm 2005, và được chọn vào đội hình Anh dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2006.[75] Tuy nhiên, ông bị rách cơ háng khi thực hiện một cú phát bóng trong trận quốc tế của Anh B gặp Belarus ngày 25 tháng 5.[76] Ông được thay thế trong đội hình bởi Scott Carson của Liverpool.[77] Chấn thương này không chỉ khiến Green bỏ lỡ World Cup mà còn cả giai đoạn đầu mùa giải 2006–07.[78]

Sau một thời gian dài vắng bóng trên đấu trường quốc tế, Green được triệu tập cho trận đấu của Anh B vào tháng 5 năm 2007[79] và sau đó có tên trong đội hình đội tuyển Anh gặp Brazil và Estonia vào tháng 6 năm 2007.[80] Ông không có tên trong đội hình Anh đầu tiên của Fabio Capello vào tháng 2 năm 2008. Green thể hiện khiếu hài hước về tình thế ở đội tuyển bằng cách sử dụng đôi găng có thêu dòng chữ "Số 6 của Anh".[81] Ông được triệu tập trở lại đội hình để thay thế Chris Kirkland bị chấn thương cho trận giao hữu của Anh gặp Pháp ngày 26 tháng 3 năm 2008.[82] Ngày 6 tháng 6 năm 2009, Green lần đầu đá chính cho Anh trong chiến thắng 4–0 tại Almaty trước Kazakhstanvòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2010.[83] Ông thi đấu cho Anh trước Croatia ngày 9 tháng 9 năm 2009, khi Anh giành vé đến Nam Phi bằng chiến thắng 5–1.[84] Ngày 10 tháng 10 năm 2009, ông trở thành thủ môn đầu tiên trong lịch sử đội tuyển Anh bị truất quyền thi đấu, trong trận áp chót vòng loại gặp Ukraine, sau pha phạm lỗi chuyên môn với Artem Milevskyi ở đầu trận. Anh sau đó thua 0–1.[85][86]

Green thi đấu cho Anh năm 2012

Green được điền tên vào đội hình Anh dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2010.[87] Huấn luyện viên Fabio Capello quyết định không công bố thủ môn lựa chọn số một cho đến ngày diễn ra trận mở màn của Anh, gặp Hoa Kỳ ngày 12 tháng 6, và khi đó ông chọn Green bắt chính.[88] Khi Anh đang dẫn 1–0 ở phút 40, Green không thể cản phá cú sút xa của tiền vệ Hoa Kỳ Clint Dempsey, bóng bật khỏi găng tay ông và đi vào lưới.[89] Trận đấu kết thúc với tỷ số hòa 1–1. Sau sai lầm này và một buổi tập cuối cùng không thuyết phục vào ngày 17 tháng 6, Green bị loại khỏi đội hình xuất phát. Ông được thay thế bởi David James, người thi đấu trong các trận còn lại của Anh, bắt đầu bằng trận hòa 0–0 với Algeria ngày 18 tháng 6.[90][91] Ông không có tên trong đội hình Anh đầu tiên được công bố sau giải đấu, cho trận giao hữu gặp Hungary.

Green được gọi trở lại đội hình cho trận vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012 gặp Montenegro vào tháng 10 năm 2010.[92] Ngày 16 tháng 5 năm 2012, huấn luyện viên mới của đội tuyển Anh Roy Hodgson điền tên Green vào đội hình 23 cầu thủ dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012.[93] Ngày 26 tháng 5, ông có lần ra sân đầu tiên kể từ World Cup và giữ sạch lưới khi Anh đánh bại Na Uy 1–0 trong một trận giao hữu.[94]

Đời tư

Mùa hè năm 2008, Green leo Núi Kilimanjaro trong một sự kiện từ thiện cho AMREF (Quỹ Y học và Nghiên cứu châu Phi).[95] Ông là cổ động viên của Woking và từng nêu người gác đền lâu năm của câu lạc bộ, Laurence Batty, là một nguồn cảm hứng khác ở vị trí thủ môn.[96][97]

Green cho biết trong một cuộc phỏng vấn năm 2017 rằng ông đang theo học bằng Cử nhân danh dự ngành Quản trị kinh doanh tại Open University để có điều gì đó tập trung sau khi giải nghệ bóng đá.[98]

Green có một ngón tay bị cong vĩnh viễn và cho biết ông đã thi đấu trong mười năm với một nẹp ngón tay bên trong găng thủ môn.[99]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp FA Cúp Liên đoàn Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Norwich City 1998–99[4] First Division 2 0 0 0 0 0 2 0
1999–2000[100] First Division 3 0 0 0 0 0 3 0
2000–01[101] First Division 5 0 0 0 0 0 5 0
2001–02[102] First Division 41 0 2 0 1 0 3[a] 0 47 0
2002–03[103] First Division 46 0 3 0 1 0 50 0
2003–04[104] First Division 46 0 1 0 1 0 48 0
2004–05[105] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 38 0 1 0 2 0 41 0
2005–06[106] Championship 42 0 1 0 2 0 45 0
2006–07[107] Championship 0 0 0 0
Tổng cộng 223 0 8 0 7 0 3 0 241 0
West Ham United 2006–07[107] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 26 0 0 0 1 0 0 0 27 0
2007–08[108] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 38 0 2 0 1 0 41 0
2008–09[109] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 38 0 4 0 1 0 43 0
2009–10[110] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 38 0 1 0 2 0 41 0
2010–11[111] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 37 0 4 0 3 0 44 0
2011–12[112] Championship 42 0 0 0 0 0 3[b] 0 45 0
Tổng cộng 219 0 11 0 8 0 0 0 3 0 241 0
Queens Park Rangers 2012–13[46] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 16 0 2 0 1 0 19 0
2013–14[50] Championship 45 0 0 0 0 0 3[b] 0 48 0
2014–15[113] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 36 0 0 0 0 0 36 0
2015–16[114] Championship 24 0 0 0 1 0 25 0
Tổng cộng 121 0 2 0 2 0 3 0 128 0
Leeds United 2016–17[115] Championship 46 0 0 0 1 0 47 0
2017–18[116] Championship 0 0 1 0 1 0
Tổng cộng 46 0 0 0 2 0 48 0
Huddersfield Town 2017–18[116] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 0 0 0 0 0 0
Chelsea 2018–19[117] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng cộng sự nghiệp 609 0 21 0 19 0 0 0 9 0 658 0
  1. ^ Lần ra sân ở First Division
  2. ^ a b Lần ra sân ở Championship

Quốc tế

Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm[118]
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Anh 2005 1 0
2006 0 0
2007 0 0
2008 0 0
2009 7 0
2010 3 0
2011 0 0
2012 1 0
Tổng cộng 12 0

Danh hiệu

Norwich City

West Ham United

Queens Park Rangers

  • Play-off Football League Championship: 2014[51]

Cá nhân

Tham khảo

  1. ^ "Updated tạis for 2017/18 Premier League confirmed". Premier League. ngày 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  2. ^ a b "Robert Green: Overview". Premier League. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019.
  3. ^ Hugman, Barry J., biên tập (2010). The PFA Footballers' Who's Who 2010–11. Edinburgh: Mainstream Publishing. tr. 176. ISBN 978-1-84596-601-0.
  4. ^ a b "Trận thi đấu của Rob Green trong 1998/1999". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  5. ^ "Green signs new Canaries deal". BBC Sport. ngày 24 tháng 1 năm 2001. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2008.
  6. ^ "Birmingham reach Premiership". ngày 12 tháng 5 năm 2002 – qua news.bbc.co.uk.
  7. ^ "Green pens Norwich deal". BBC Sport. ngày 30 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2008.
  8. ^ "England make shock calls". ngày 27 tháng 3 năm 2004.
  9. ^ a b "Henry retains PFA crown". BBC Sport. ngày 25 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  10. ^ "Fulham 6–0 Norwich". BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2014.
  11. ^ a b "Hammer Green eyes England recall". BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2014.
  12. ^ "West Ham United". Flown From The Nest. Steve Whitlam. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  13. ^ "Tottenham 1–0 West Ham". BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2014.
  14. ^ "Green fingers revive Hammers' prospects". The Guardian. London. 9 tháng 4 năm 2007. Retrieved 23 tháng 6 năm 2007.
  15. ^ "Manchester United v West Ham United, 0–1" Lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007 tại Wayback Machine. Premier League. 13 tháng 5 năm 2007. Retrieved 23 tháng 6 năm 2007.
  16. ^ "Man Utd 0–1 West Ham". BBC Sport. ngày 13 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2017.
  17. ^ a b c d "Robert Green". Westhamstats.info. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  18. ^ "Reading 0 West Ham 3". Sporting Life. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.
  19. ^ "Portsmouth 0 West Ham 0". Sporting Life. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.
  20. ^ "West Ham 1 Tottenham 1". Sporting Life. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.
  21. ^ "West Ham 1 Birmingham 1". Sporting Life. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.[liên kết hỏng]
  22. ^ a b "Green is Hammer of the Year". West Ham United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.
  23. ^ "West Ham 4–1 Blackburn". BBC Sport. ngày 30 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2017.
  24. ^ "West Ham 3–1 Wigan". BBC Sport. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2017.
  25. ^ "Stoke City 2–1 West Ham United". BBC Sport. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2017.
  26. ^ "Tottenham 0–0 West Ham". BBC Sport. ngày 19 tháng 3 năm 2011.
  27. ^ "Robert Green Player Profile". West Ham United F.C. ngày 18 tháng 1 năm 1980. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2011.
  28. ^ "West Ham United's Robert Green Commits Another Howler After Red Card". The Huffington Post. ngày 22 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2013.
  29. ^ "Blackpool 1–4 West Ham". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  30. ^ "West Ham United keeper Robert Green's red card overturned". East London & West Essex Guardian. ngày 23 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012.
  31. ^ "Championship 2011–12". Westhamstats.info. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  32. ^ "Blackpool 1 West Ham 2". Sporting Life. ngày 19 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2012.[liên kết hỏng]
  33. ^ "Robert Green to leave West Ham this summer, says David Gold". BBC Sport. ngày 3 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2021.
  34. ^ "QPR swoop for keeper Green". ESPN. 21 tháng 6 năm 2012. Retrieved 17 tháng 9 năm 2016.
  35. ^ "QPR 0–5 Swansea". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  36. ^ "Julio Cesar agrees QPR move from Inter Milan". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  37. ^ "Rob Green victim of the Tony Fernandes QPR revolution". Daily Express. London. ngày 1 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2013.
  38. ^ "QPR 0–0 Chelsea". BBC Sport. ngày 15 tháng 9 năm 2012.
  39. ^ "Sunderland 0–0 QPR". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  40. ^ "QPR 1–1 Aston Villa". BBC Sport. ngày 1 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  41. ^ "Wigan 2–2 QPR". BBC Sport. ngày 8 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  42. ^ "QPR 2–1 Fulham". BBC Sport. ngày 15 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  43. ^ "Newcastle 1–0 QPR". BBC Sport. ngày 22 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  44. ^ "QPR 1–2 West Brom". BBC Sport. ngày 26 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  45. ^ "QPR 0–3 Liverpool". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  46. ^ a b "Trận thi đấu của Rob Green trong 2012/2013". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  47. ^ "Southampton 1–2 QPR". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  48. ^ "QPR 0–1 Arsenal". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  49. ^ "QPR's Júlio César likely to be sold this summer, says Harry Redknapp". The Guardian. London. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2013.
  50. ^ a b "Trận thi đấu của Rob Green trong 2013/2014". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  51. ^ a b Fletcher, Paul (ngày 24 tháng 5 năm 2014). "Derby County 0–1 Queens Park Rangers". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  52. ^ Moore, Joe (ngày 10 tháng 5 năm 2015). "Man City 6–0 QPR: Aquero hat-trick sends hapless Hoops down". Talksport. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2015.
  53. ^ Burnett, Rob (ngày 27 tháng 12 năm 2014). "Revealed: How QPR's Eduardo Vargas correctly predicted where Alexis Sanchez would put his penalty to help Rob Green save it". Daily Mirror. London. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2016.
  54. ^ "QPR not playing Rob Green because of contract clause". Sky Sports. ngày 12 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016.
  55. ^ "Rob Green: Leeds United sign former England goalkeeper". BBC Sport. ngày 6 tháng 7 năm 2016.
  56. ^ "QPR claim opening victory". Leeds United F.C. ngày 7 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2016.
  57. ^ "Matchday: Fleetwood – Live!". Leeds United F.C. ngày 10 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2016.
  58. ^ "United too strong for Wednesday". Leeds United F.C. ngày 20 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2016.
  59. ^ Newsum, Matt (ngày 20 tháng 11 năm 2016). "Leeds United 0–2 Newcastle United". BBC Sport.
  60. ^ "Leeds United: Monk's man given the green light for a reason – Hay". Yorkshire Evening Post. Leeds. ngày 14 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2016.
  61. ^ "Green saves Penalty!". Sky Sports. ngày 26 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017.
  62. ^ "Leeds United: Rob Green secures Elland Road contract extension". Yorkshire Evening Post. Leeds. ngày 18 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2017.
  63. ^ "REPORT: BOLTON WANDERERS 2–3 LEEDS UNITED". Leeds United F.C. ngày 6 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2017.
  64. ^ "Leeds 5 Newport 1". BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2017.
  65. ^ "Whites Re-Sign Lonergan". Wolverhampton Official Website. ngày 27 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2017.
  66. ^ "Green Departs". Leeds United Official. ngày 27 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2017.
  67. ^ Tomlinson, Adam (ngày 27 tháng 8 năm 2017). "Signing: Robert Green joins Town". Huddersfield Town A.F.C. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2017.
  68. ^ PA SPORT (ngày 18 tháng 5 năm 2018). "Former Leeds United goalkeeper Rob Green leaves Huddersfield Town". Yorkshire Evening Post. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  69. ^ "Robert Green: Chelsea sign ex-England goalkeeper on a free transfer". BBC Sport. ngày 26 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2018.
  70. ^ "Premier League: Chelsea's Robert Green describes life as a third-choice goalkeeper". BBC Sport. ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2019.
  71. ^ Freezer, David. "Canaries legend becomes a full-kit winner with Chelsea in Europa League final". Norwich Evening News. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2019.
  72. ^ "Rob Green: Chelsea and former England goalkeeper to retire". BBC Sport. ngày 31 tháng 5 năm 2019.
  73. ^ "Happy to be here" Lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2008 tại Wayback Machine. The Football Association. 30 tháng 3 năm 2004. Retrieved 23 tháng 6 năm 2007.
  74. ^ "Owen does it again" Lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2008 tại Wayback Machine. The Football Association. 1 tháng 6 năm 2005. Retrieved 23 tháng 6 năm 2007.
  75. ^ "World Cup squad" Lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2008 tại Wayback Machine. The Football Association. 8 tháng 5 năm 2006. Retrieved 23 tháng 6 năm 2007.
  76. ^ "Keeper Green set to miss finals". BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2014.
  77. ^ "Carson promoted to England squad". BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2014.
  78. ^ "Green gears up for playing return". BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2014.
  79. ^ "Injured Foster sent home" Lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2008 tại Wayback Machine. The Football Association. 22 tháng 5 năm 2007. Retrieved 23 tháng 6 năm 2007.
  80. ^ "McClaren names squad" Lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2008 tại Wayback Machine. BBC Sport. 26 tháng 5 năm 2007. Retrieved 23 tháng 6 năm 2007.
  81. ^ Yates, David. "Hammers keeper Robert Green pokes fun at England job". Daily Mirror. London. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.
  82. ^ "Green called into England squad". BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2014.
  83. ^ "Green keeps it clean". West Ham United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2014.
  84. ^ McNulty, Phil (ngày 9 tháng 9 năm 2009). "England 5-1 Croatia". BBC Sport. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2019.
  85. ^ McNulty, Phil (ngày 10 tháng 10 năm 2009). "Ukraine 1–0 England". BBC Sport. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.
  86. ^ "England crash in Ukraine". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.
  87. ^ "Official Players List" (PDF). FIFA. ngày 4 tháng 6 năm 2010. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010.
  88. ^ "Capello defends goalkeeper delay". Professional Footballers' Association. ngày 13 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2010.
  89. ^ McNulty, Phil (ngày 12 tháng 6 năm 2010). "England 1–1 USA". BBC Sport. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2010.
  90. ^ "World Cup 2010: David James will play against Algeria". BBC Sport. ngày 18 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010.
  91. ^ McNulty, Phil (ngày 18 tháng 6 năm 2010). "England 0–0 Algeria". BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010.
  92. ^ Sapa-dpa (ngày 5 tháng 10 năm 2010). "Goalkeeper Green recalled to squad for Montenegro qualifier". Times Live. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2010.
  93. ^ "England Euro 2012 squad: Ruddy, Carroll & Defoe in, Ferdinand out". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  94. ^ McNulty, Phil. "Norway 0–1 England". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  95. ^ "Robert Green's Kilimanjaro Climb". Justgiving.com. ngày 20 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.
  96. ^ "Woking Football Club". Woking F.C. ngày 15 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.
  97. ^ Smith, Alan. "Deep thinker enjoys life on the big stage". The Daily Telegraph. London. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016.
  98. ^ "ROB GREEN: THE PERFECT DEGREE FOR FOOTBALL SUPPORTERS". Leeds United F.C. ngày 7 tháng 1 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017.
  99. ^ "Rob Green shows off gruesome finger injury and explains how it happened". ngày 29 tháng 12 năm 2023.
  100. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 1999/2000". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  101. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2000/2001". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  102. ^ 10709&season_id=131 "Trận thi đấu của Rob Green trong 2001/2002". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  103. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2002/2003". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  104. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2003/2004". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  105. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2004/2005". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  106. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2005/2006". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  107. ^ a b "Trận thi đấu của Rob Green trong 2006/2007". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  108. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2007/2008". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  109. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2008/2009". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  110. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2009/2010". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  111. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2010/2011". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  112. ^ 10709&season_id=141 "Trận thi đấu của Rob Green trong 2011/2012". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  113. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2014/2015". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  114. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2015/2016". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  115. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2016/2017". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2017.
  116. ^ a b "Trận thi đấu của Rob Green trong 2017/2018". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  117. ^ "Trận thi đấu của Rob Green trong 2018/2019". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019.
  118. ^ "Green, Robert". National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019.
  119. ^ Rollin; Rollin, Jack, biên tập (2004). Sky Sports Football Yearbook 2004–2005. London: Headline Publishing Group. tr. 48, 274–275. ISBN 978-0-7553-1311-2. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |play-off editor1-first= (trợ giúp)
  120. ^ Fletcher, Paul (ngày 19 tháng 5 năm 2012). "Blackpool 1–2 West Ham". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016.

Liên kết ngoài

Content Disclaimer

Informasi ini disarikan dari Wikipedia dan disajikan kembali untuk tujuan edukasi. Konten tersedia di bawah lisensi CC BY-SA 3.0. Kami tidak bertanggung jawab atas ketidakakuratan data yang bersumber dari kontribusi publik tersebut.

  1. The information displayed on this website is sourced in part or in whole from Wikipedia and has been adapted for the purpose of restating it. We strive to provide accurate and relevant information, however:
  2. There is no guarantee of absolute accuracy. Wikipedia is an open, collaborative project that can be edited by anyone, so information is subject to change.
  3. It is not intended to constitute professional advice. The content displayed is for informational and educational purposes only. For important decisions (e.g., medical, legal, or financial), please consult a professional.
  4. Content copyright. Wikipedia is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike License (CC BY-SA). This means that content may be reused with appropriate attribution and shared under a similar license.
  5. Responsible use. Any risk arising from the use of information from this website is entirely the responsibility of the user.