Portia Modise

Portia Modise
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Portia Modise[1]
Ngày sinh 20 tháng 6, 1983 (42 tuổi)
Nơi sinh Soweto, Nam Phi
Chiều cao 1,63 m (5 ft 4 in)[chuyển đổi: số không hợp lệ]
Vị trí Tiền vệ, Tiền đạo
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
Soweto Rangers
Jomo Cosmos
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1996–? Soweto Ladies
2007–2009 Fortuna Hjørring
2009–2012? Palace Super Falcons
2014–2015 Croesus Ladies
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2000–2015 Nam Phi 124 (101)
Thành tích huy chương
Bóng đá nữ
Đại diện cho  Nam Phi
Giải vô dịch châu Phi
Huy chương bạc – vị trí thứ hai Nam Phi 2000 Nam Phi
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 13:38, 16 tháng 10 năm 2010 (UTC)
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 9 tháng 4 năm 2016

Portia Modise (sinh ngày 20 tháng 6 năm 1983) là một cầu thủ bóng đá nữ người Nam Phi, từng được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất giải vô địch bóng đá nữ châu Phi 2006. Cô đại diện đội tuyển quốc gia Nam Phi tham dự Thế vận hội Luân Đôn 2012 và trở thành cầu thủ châu Phi đầu tiên ghi được 100 bàn thắng quốc tế.[2]

Sự nghiệp câu lạc bộ

Modise sinh ra tại Soweto (Meadowlands) và bắt đầu chơi bóng với các cậu bé trong khu phố. Cô chọn bóng đá thay vì bóng lưới khi còn đi học và bắt đầu thi đấu cho Soweto Rangers ở cấp độ U-10.[3] Sau khi thi đấu cho Rangers và đội nữ của Jomo Cosmos, cô chuyển sang Soweto Ladies vào năm 1996.[3] Modise có hai anh trai.[4]

Thi đấu tốt ở cả vị trí tiền vệ lẫn tiền đạo, cô được đặt biệt danh là "Bashin" theo tên cầu thủ nam Albert "Bashin" Mahlangu.[5][6] Trong mùa giải 2001–02, cô ghi được 51 bàn thắng cho Soweto Ladies,[5] và ghi thêm hai bàn nữa trong trận chung kết vô địch quốc gia thắng Cape Town Pirates 4–0.[7]

Năm 2003, Modise được mời thử việc tại Arsenal Ladies.[8][9] Tuy nhiên, do tranh cãi về tài trợ và kinh phí, cô và hai đồng đội người Nam Phi là Toni Carelse và Veronica Phewa không thể ký hợp đồng, dù đã gây ấn tượng với HLV Vic Akers.[10]

Mùa 2005–06, cô làm huấn luyện viên học viện cho Orlando Pirates, nhưng rời vị trí sau 7 tháng vì bất đồng với HLV Augusto Palacios.[11]

Tháng 6 năm 2007, Modise ký hợp đồng 2 năm với CLB Fortuna Hjørring ở giải Đan Mạch, sau khi gây ấn tượng trong hợp đồng thử việc 1 tháng.[12] Ở Nam Phi, cô từng thi đấu cho Orlando Pirates, Jomo Cosmos F.C. và Palace Super Falcons.[13]

Năm 2009, cô ký hợp đồng 6 tháng với Palace Super Falcons tại Nam Phi,[14] và tiếp tục thi đấu ở đó trong năm 2012.[15]

Năm 2014, cô không góp mặt trong đợt tập trung ban đầu của đội tuyển dự giải vô địch châu Phi do đang thi đấu bí mật cho một đội nam ở nước ngoài.[16] Sau đó, khi HLV mới biết đến cô, Modise quay trở lại Nam Phi và thi đấu cho Croesus Ladies.[17]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia

Modise từng là đội trưởng đội U-19 Nam Phi (Basetsane Basetsane) trước khi được gọi lên tuyển quốc gia (Banyana Banyana).[5] Tại giải vô địch nữ châu Phi 2000, cô thi đấu tất cả các trận, ghi bàn đầu tiên trước Zimbabwe[2] và đá trận chung kết gặp Nigeria – trận đấu bị gián đoạn bởi bạo loạn từ khán giả.[18]

Năm 2005, cô là một trong hai cầu thủ châu Phi được đề cử danh hiệu Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm của FIFA, cùng Perpetua Nkwocha.[19] Danh hiệu thuộc về Birgit Prinz.[20]

Tại giải vô địch bóng đá nữ châu Phi 2006, cô ghi bàn trong trận tranh hạng ba với Cameroon và được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất giải. Cô cũng nằm trong top 3 đề cử Cầu thủ nữ xuất sắc nhất châu Phi năm đó và được chọn thi đấu trận All-Stars trước lễ bốc thăm Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007.[21][22]

Tháng 11 năm 2008, Modise tuyên bố rút khỏi đội tuyển quốc gia sau khi mâu thuẫn với HLV August Makalakalane.[23] Tháng 4 năm 2012, cô được HLV mới Joseph Mkhonza triệu tập trở lại sau khi Makalakalane bị sa thải do cáo buộc quấy rối tình dục và kỳ thị đồng tính.[24]

Trước thềm Thế vận hội 2012, cô đã có 71 bàn thắng sau 92 lần ra sân.[25] Trong trận ra quân gặp Thụy Điển (thua 1–4), cô ghi bàn từ vạch giữa sân. FIFA.com mô tả đây là pha lập công "rung chuyển" sân vận động,[26] được khán giả cả hai đội vỗ tay tán thưởng.[27]

Tháng 10 năm 2012, cô được triệu tập dự giải vô địch bóng đá nữ châu Phi, và được kỳ vọng sẽ đạt mốc 100 lần khoác áo đội tuyển nếu Nam Phi vào bán kết.[28] Modise đóng vai trò then chốt trong hành trình đưa Nam Phi vào đến trận chung kết, nơi họ để thua trước Guinea Xích Đạo..[29]

Tháng 10 năm 2014, Modise trở thành cầu thủ châu Phi đầu tiên ghi được 100 bàn thắng quốc tế, với cú đúp vào lưới Algeria (thắng 5–1) tại giải vô địch bóng đá nữ châu Phi.[30]

Ngày 19 tháng 5 năm 2015, cô tuyên bố giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế, khép lại với 124 trận và 101 bàn thắng cho đội tuyển Nam Phi.[2]

Bàn thắng quốc tế

No. Ngày Địa điểm Đội tuyển Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 25 tháng 10 năm 2003 Pretoria, Nam Phi  Namibia 8–0 13–0 Vòng loại Thế vận hội Mùa hè 2004
2. 1 tháng 2 năm 2004 Nam Phi  Angola 4–1 6–2
3. 5–1
4. 6–2
5. 14 tháng 2 năm 2004 Luanda, Angola  Angola 1–1 2–3
6. 12 tháng 3 năm 2004 Nam Phi  Nigeria 1–2 2–2
7. 2–2
8. 21 tháng 9 năm 2004 Pretoria, Nam Phi  Zimbabwe 1–0 1–2 Giải vô địch bóng đá nữ châu Phi 2004
9. 22 tháng 8 năm 2006 Lusaka, Zambia  Lesotho 2–0 9–0 Giải vô địch bóng đá nữ khu vực Nam Phi (COSAFA) 2006
10. 5–0
11. 24 tháng 8 năm 2006  Malawi 2–0 3–0
12. 25 tháng 8 năm 2006  Zimbabwe 1–0 4–1
13. 26 tháng 8 năm 2006  Namibia 1–1 3–1
14. 3–1
15. 10 tháng 11 năm 2006 Oleh, Nigeria  Cameroon 1–0 2–2 (5–4 p) Giải vô địch bóng đá nữ châu Phi 2006
72. 25 tháng 7 năm 2012 Coventry, Anh  Thụy Điển 1–3 1–4 Thế vận hội Mùa hè 2012
95. 23 tháng 5 năm 2014 Mitsamiouli, Comoros  Comoros 1–0 13–0 Vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ châu Phi 2004
96. 2–0
97. 5–0
98. 6–0
99. 18 tháng 10 năm 2014 Windhoek, Namibia  Algérie 2–0 5–1 Giải vô địch bóng đá nữ châu Phi 2014
100. 5–0
101. 11 tháng 4 năm 2015 Johannesburg, Nam Phi  Botswana 2–0 5–0 Vòng loại Đại hội Thể thao châu Phi

Đời tư

Vào tháng 3 năm 2005, Ria Ledwaba – trưởng ban bóng đá nữ của Hiệp hội Bóng đá Nam Phi (SAFA) – đã công bố kế hoạch đưa các cầu thủ đến các lớp học về nghi thức xã giao và cung cấp trang phục thi đấu bó sát hơn nhằm "tăng vẻ nữ tính" cho họ.[31] Là đội trưởng đội tuyển quốc gia, Modise công khai bác bỏ đề xuất này và chỉ trích mạnh mẽ ban điều hành: “Chúng tôi cần các nhà tài trợ, nhưng tất cả những gì ban này làm chỉ là đưa ra những vấn đề kém quan trọng vì họ đã thất bại trong việc cải tổ môn thể thao này.”[32]

Trong tranh cãi với Ledwaba, Modise từ chối tiết lộ xu hướng tính dục của mình: “Cuộc sống riêng tư là chuyện của tôi.”[32] Năm 2011, cô xuất hiện trong một bộ phim tài liệu truyền hình, làm nổi bật tình cảnh của những người đồng tính nữ ở Nam Phi – những người luôn sống trong lo sợ bị “hiếp dâm để chữa trị”, bị bạo lực và sát hại. Modise chia sẻ với các nhà làm phim rằng cô không bao giờ ra ngoài một mình vào ban đêm: “Tôi biết rõ cuộc sống của một người đồng tính nữ da đen ở Nam Phi nguy hiểm như thế nào.”[33]

Tài liệu tham khảo

  1. ^ "Women's Olympic Football Tournament London 2012 – List of Players South Africa" (PDF). FIFA. ngày 24 tháng 7 năm 2012. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  2. ^ a b c "Portia: SA's centurion in numbers". SAFA. ngày 25 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 4 2016. Truy cập 9 tháng 4 2016.
  3. ^ a b Mangena, Jonathan (ngày 4 tháng 2 năm 2004). "Strike the jackpot tonight with Portia". Daily Sun. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 4 2016. Truy cập 24 tháng 10 2012.
  4. ^ Chukwuleta, Chigozie. "PORTIA MODISE – THE BANYANA BANYANA OLYMPIC SAVIOUR?". Design Studio. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
  5. ^ a b c Mnguni, Happy (ngày 16 tháng 5 năm 2002). "Sanlam's Halala Cup kicks off in Cape Town Modise to lead her team". Beeld Donderdag. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 4 2016. Truy cập 24 tháng 10 2012.
  6. ^ "Portia Modise". London2012.com. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 8 2012. Truy cập 24 tháng 10 2012.
  7. ^ Schöggl, Hans (ngày 29 tháng 12 năm 2004). "South Africa (Women) 2001/02". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2012.
  8. ^ Allie, Mohammed (ngày 21 tháng 8 năm 2003). "Arsenal targets SA ladies". BBC. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  9. ^ "SA's soccer 'Girls' growing up". South African Women. International Marketing Council of South Africa. ngày 31 tháng 3 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
  10. ^ Langa, Lesiba (ngày 23 tháng 11 năm 2003). "Banyana trio won't leave Arsenal – for now". City Press. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  11. ^ Molobi, Timothy (ngày 23 tháng 11 năm 2003). "Modise points at 'bossy' Palacios". City Press. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  12. ^ "TV2/Nord | Sydafrikaner fastansat i Fortuna | Nordjylland | Sport". Bản gốc lưu trữ 23 tháng 10 2014. Truy cập 23 tháng 10 2012.
  13. ^ "Modise Unavailable for Banyana". Kickoff. ngày 21 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  14. ^ "Portia Snapped up by Super Falcons | gsport4girls". Bản gốc lưu trữ 23 tháng 10 2014. Truy cập 23 tháng 10 2014.
  15. ^ "Modise en route to Stellenbosch for training camp with Banyana" (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.
  16. ^ "Archived copy". Bản gốc lưu trữ 23 tháng 10 2014. Truy cập 23 tháng 10 2014.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  17. ^ "South Africa/Botswana: Sasol Banyana Banyana Thump Botswana Again in a Friendly Match". Johannesburg: South African Football Association. ngày 13 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.
  18. ^ Duret, Sébastien (ngày 14 tháng 2 năm 2008). "Africa – Women's Championship 2000". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2012.
  19. ^ Schlimme, Tom. "Die Nominierten aus Afrika – Perpetua Nkwocha und Portia Modise". Weltfußballerin 2005. FanSoccer. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
  20. ^ "Birgit Prinz: Germany's finest female footballer". ngày 21 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2024.
  21. ^ "Women's Football". 2010 FIFA World Cup South Africa. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
  22. ^ "South African Football". GCIS. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
  23. ^ Moreotsene, Linda (ngày 18 tháng 11 năm 2008). "Angry Modise Quits Banyana". Sowetan Live. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  24. ^ Goliath, John (ngày 13 tháng 4 năm 2012). "Modise wants to show off skill". Cape Times. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  25. ^ "South Africa's Portia Modise aims for Olympic shocks". BBC. ngày 24 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  26. ^ "London 2012: SA's Portia Modise scores from centre circle". BBC. ngày 25 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2012.
  27. ^ Goliath, John (ngày 26 tháng 7 năm 2012). "Modise: My moment in the limelight". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  28. ^ Lewadu, Nakampe (ngày 9 tháng 10 năm 2012). "Modise and Nyandeni hoping for Banyana's 100th caps". Sports Focus. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2012.
  29. ^ "Modise nominated for top CAF award". SuperSport.com. ngày 29 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012.
  30. ^ FIFA.com
  31. ^ "Women urged to soften image". BBC. ngày 9 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  32. ^ a b "Banyana captain hits out at Ledwaba". City Press. ngày 12 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  33. ^ "The Fear's Still Out There". Daily Sun. ngày 28 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.

Liên kết ngoài

Content Disclaimer

Informasi ini disarikan dari Wikipedia dan disajikan kembali untuk tujuan edukasi. Konten tersedia di bawah lisensi CC BY-SA 3.0. Kami tidak bertanggung jawab atas ketidakakuratan data yang bersumber dari kontribusi publik tersebut.

  1. The information displayed on this website is sourced in part or in whole from Wikipedia and has been adapted for the purpose of restating it. We strive to provide accurate and relevant information, however:
  2. There is no guarantee of absolute accuracy. Wikipedia is an open, collaborative project that can be edited by anyone, so information is subject to change.
  3. It is not intended to constitute professional advice. The content displayed is for informational and educational purposes only. For important decisions (e.g., medical, legal, or financial), please consult a professional.
  4. Content copyright. Wikipedia is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike License (CC BY-SA). This means that content may be reused with appropriate attribution and shared under a similar license.
  5. Responsible use. Any risk arising from the use of information from this website is entirely the responsibility of the user.