Neill Collins

Neill Collins
Collins trong trận đấu tưởng niệm Jody Craddock vào tháng 5 năm 2014
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Neill William Collins[1]
Ngày sinh 2 tháng 9, 1983 (42 tuổi)[2]
Nơi sinh Troon, Scotland[2]
Chiều cao 6 ft 3 in (1,91 m)[3]
Vị trí Trung vệ
Thông tin đội
Đội hiện nay
Sacramento Republic (huấn luyện viên)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
Kilmarnock
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2001–2002 Queen's Park 32 (0)
2002–2004 Dumbarton 63 (4)
2004–2007 Sunderland 18 (1)
2005–2006Hartlepool United (mượn) 22 (0)
2006Sheffield United (mượn) 2 (0)
2006–2007Wolverhampton Wanderers (mượn) 3 (1)
2007–2009 Wolverhampton Wanderers 81 (8)
2009–2010Preston North End (mượn) 16 (0)
2010 Preston North End 5 (1)
2010Leeds United (mượn) 9 (0)
2010–2011 Leeds United 21 (0)
2011–2016 Sheffield United 177 (12)
2015Port Vale (mượn) 7 (0)
2016–2018 Tampa Bay Rowdies 61 (3)
Tổng cộng 517 (30)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2005 Scotland U21 7 (0)
2007 Scotland B 1 (0)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm Đội
2018–2023 Tampa Bay Rowdies
2023–2024 Barnsley
2024 Raith Rovers
2025– Sacramento Republic
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Neill William Collins (sinh ngày 2 tháng 9 năm 1983) là một huấn luyện viên bóng đá và cựu cầu thủ người Scotland, hiện là huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ USL Championship Sacramento Republic.

Collins là cựu tuyển thủ U-21 ScotlandScotland B, từng thi đấu ở vị trí trung vệ. Ông bắt đầu sự nghiệp cầu thủ tại Queen's Park trước khi chuyển đến Dumbarton. Năm 2004, ông chuyển nhượng sang đội bóng Anh Sunderland, nhưng không thể khẳng định vị trí trong đội một trong ba năm khoác áo câu lạc bộ vùng Wearside. Sau các giai đoạn thi đấu theo dạng cho mượn tại Hartlepool United và Sheffield United, ông được cho Wolverhampton Wanderers mượn, nơi ông trở thành cầu thủ thường xuyên của đội một và ký hợp đồng chính thức vào năm 2007. Sau khi Wolves thăng hạng lên Premier League, ông không còn được trọng dụng và tiếp tục được đem cho mượn, lần này đến Preston North End. Dù Preston ký hợp đồng chính thức với ông vào năm 2010, Collins chưa bao giờ là lựa chọn thường xuyên tại đây. Ông nhanh chóng chuyển đến Leeds United, nơi ông cùng đội bóng giành quyền thăng hạng lên Championship vào năm 2010. Sau khi mất vị trí ở mùa giải tiếp theo, Collins trở lại Sheffield United, một trong những câu lạc bộ cũ mà ông từng thi đấu theo dạng cho mượn, và có hơn 100 lần ra sân. Ông mất vị trí trong đội một ở mùa giải 2014–15 và gia nhập Port Vale theo dạng cho mượn vào tháng 3 năm 2015. Tháng 3 năm 2016, ông chuyển sang Hoa Kỳ để thi đấu cho Tampa Bay Rowdies. Khi kết thúc sự nghiệp thi đấu kéo dài 18 năm, ông đã ghi 35 bàn sau 583 lần ra sân ở các giải vô địch quốc gia và cúp.

Ông bắt đầu sự nghiệp huấn luyện vào tháng 5 năm 2018, khi chuyển từ vai trò cầu thủ sang huấn luyện viên trưởng tại Tampa Bay Rowdies. Mùa giải 2021 là một mùa giải rất thành công khi ông hai lần giành giải Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng của USL Championship, đồng thời đoạt giải Huấn luyện viên của năm, sau khi đội bóng của ông vô địch Eastern Conference và sau đó kết thúc với vị trí á quân tại vòng play-off. Ông trở lại Anh để dẫn dắt Barnsley vào tháng 7 năm 2023, nhưng bị sa thải khi mùa giải 2023–24 chỉ còn một trận, trong bối cảnh đội bóng đang nằm trong nhóm dự vòng play-off League One. Ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của Raith Rovers vào tháng 9 năm 2024.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Queen's Park

Collins sinh ra tại Troon, Scotland. Ông từng thuộc học viện trẻ của Kilmarnock, đội bóng mà ông cổ vũ từ nhỏ, trước khi bị thanh lý khi mới 14 tuổi.[4] Ông bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ nghiệp dư Scotland Queen's Park, ra mắt đội một trong chiến thắng 2–0 trên sân của Stirling Albion vào ngày 24 tháng 3 năm 2001.[5] Ông có bốn lần ra sân trong mùa giải 2000–01, khi đội bóng Spiders của John McCormack bị xuống hạng từ Second Division xuống Third Division. Collins thi đấu 31 trận khi Queen's Park kết thúc ở cuối bảng Scottish Football League trong mùa giải 2001–02. Trong thời gian này, ông làm việc tại một siêu thị Safeway.[6]

Dumbarton

Collins chuyển đến câu lạc bộ Dumbarton, đội bóng mới thăng hạng lên Second Division, vào tháng 7 năm 2002.[7] Trong thời gian thi đấu tại Strathclyde Homes, Collins được cổ động viên yêu mến, từng có một giai đoạn giữ vai trò đội trưởng và là nhân tố quan trọng trong cuộc chiến trụ hạng Second Division của đội bóng Sons dưới thời Paul Martinmùa giải 2002–03. Sau đó, ông ra sân 34 lần khi Dumbarton kết thúc mùa giải 2003–04 dưới sự dẫn dắt của Brian Fairley với khoảng cách hai điểm so với nhóm thăng hạng. Trong thời gian ở đây, ông từng thử việc tại Falkirk, Hibernian, RangersCharlton Athletic.[8][9] Trong thời gian còn ở Scotland, ông cũng hoàn thành bằng Cử nhân Nghệ thuật ngành "Thể thao trong Cộng đồng" tại Đại học Strathclyde.[10]

Sunderland

Collins được huấn luyện viên Mick McCarthy của Sunderland chiêu mộ vào tháng 8 năm 2004 với mức phí 25.000 bảng Anh.[11] Ba tháng sau, ông ký hợp đồng mới để ở lại Sân vận động Ánh sáng đến năm 2007.[12] Ông có 11 lần ra sân trong mùa giải 2004–05, khi câu lạc bộ giành quyền thăng hạng lên Premier League với tư cách nhà vô địch Championship.

Ông không ra sân trận nào ở hạng đấu cao nhất cho Black Cats sau khi Alan Stubbs được chiêu mộ, và thay vào đó được cho mượn đến đội bóng League One Hartlepool United vào tháng 8 năm 2005.[13] Ông có 25 lần ra sân cho đội bóng Pools của Martin Scott trong thời gian thi đấu tại Victoria Park. Tháng 2 năm 2006, ông được cho mượn đến Sheffield United, đội bóng Championship đang hướng đến mục tiêu thăng hạng dưới thời Neil Warnock.[14] Đội bóng Blades giành quyền thăng hạng trong mùa giải 2005–06, dù Collins chỉ ra sân hai trận tại Bramall Lane.

Khi Sunderland trở lại Championship ở mùa giải 2006–07, Collins buộc phải thi đấu ở vị trí hậu vệ phải không quen thuộc do các đồng đội Stephen WrightNyron Nosworthy chấn thương. Ông thường xuyên được Mick McCarthy sử dụng, nhưng sau khi McCarthy rời ghế huấn luyện viên, Collins bị huấn luyện viên thay thế Roy Keane loại khỏi đội hình, dù bản thân ông cho rằng mình đã thi đấu tốt.[15]

Wolves

Collins tái hợp với người thầy cũ Mick McCarthy tại Wolverhampton Wanderers sau khi gia nhập câu lạc bộ theo dạng cho mượn vào tháng 11 năm 2006.[16] Cuộc thảo luận về thương vụ cho mượn này là lần đầu tiên Roy Keane và McCarthy nói chuyện với nhau kể từ sự cố Saipan năm 2002.[17] Sau khi hợp đồng cho mượn kết thúc, ông gia nhập Wolves theo dạng chính thức vào tháng 1 năm 2007 với mức phí 150.000 bảng Anh.[18] Ông thường xuyên đá chính trong phần còn lại của mùa giải 2006–07, khi câu lạc bộ lọt vào vòng play-off Championship.

mùa giải 2007–08, Wolves lỡ suất dự vòng play-off vì thua hiệu số bàn thắng thua, trong khi Collins có 42 lần ra sân. Collins khởi đầu mùa giải 2008–09 tốt cùng Wolves, nhưng bị loại khỏi đội một sau khi Michael Mancienne được mượn từ Chelsea.[19] Khi Mancienne trở lại Chelsea vào đầu năm mới, Collins quay lại đội hình và đá cặp với Richard Stearman. Ông ghi một số bàn thắng quan trọng trong giai đoạn này. Tuy nhiên, ông nhanh chóng mất vị trí một lần nữa sau khi nhận thẻ đỏ vì lỗi phản ứng trong trận gặp Reading và sau khi câu lạc bộ bổ sung tuyển thủ Scotland Christophe Berra. Ông tiếp tục vắng mặt trong đội hình suốt phần còn lại của mùa giải, khi câu lạc bộ thăng hạng lên Premier League với tư cách nhà vô địch, rồi bị đưa vào danh sách chuyển nhượng vào tháng 7 năm 2009.

Preston North End

Tháng 9 năm 2009, Collins được cho mượn đến đội bóng Championship Preston North End, trước khi thương vụ trở thành chính thức khi ông ký hợp đồng ba năm rưỡi với mức phí không được tiết lộ vào tháng 1 năm 2010.[20][21] Thương vụ được hoàn tất sau khi huấn luyện viên Alan Irvine rời câu lạc bộ. Hậu vệ này mất vị trí trong đội hình dưới thời huấn luyện viên mới Darren Ferguson.

Leeds United

Tháng 3 năm 2010, Collins chuyển đến đội bóng League One Leeds United theo dạng cho mượn trong phần còn lại của mùa giải 2009–10, nhằm thay thế Patrick Kisnorbo đang chấn thương.[22] Ông đóng vai trò quan trọng khi Leeds giành quyền thăng hạng lên Championship sau khi kết thúc League One ở vị trí thứ hai. Tháng 7 năm 2010, ông ký hợp đồng ba năm với Leeds với mức phí không được tiết lộ.[23]

Ông bắt đầu mùa giải 2010–11 với tư cách một trong những hậu vệ được lựa chọn đầu tiên của Leeds, do Patrick Kisnorbo vẫn phải nghỉ dài hạn vì chấn thương. Sau một số màn trình diễn thiếu ổn định ở đầu mùa, Collins đá phản lưới nhà trong trận thua 2–5 của Leeds trước Barnsley và bị huấn luyện viên Simon Grayson đẩy lên ghế dự bị vào cuối tháng 10.

Sheffield United

Collins thi đấu cho Sheffield United năm 2013

Collins ký hợp đồng hai năm rưỡi với đội bóng Championship Sheffield United sau khi được Micky Adams chiêu mộ với mức phí không được tiết lộ vào tháng 1 năm 2011.[24] Ông ra mắt trong trận thua 0–3 trước Ipswich Town tại Portman Road vào ngày 5 tháng 2. Ông thường xuyên góp mặt ở hàng phòng ngự trong phần còn lại của mùa giải 2010–11, ra sân 14 trận, nhưng gặp nhiều khó khăn khi đội bóng trải qua cuộc chiến trụ hạng bất thành; sau này ông nói rằng "tình trạng thiếu kỉ luật lan tràn trong câu lạc bộ cả trong lẫn ngoài sân cỏ" và "tôi đã cố trở thành sự kết hợp giữa Roy of the RoversTerry Butcher, nhưng mọi chuyện không diễn ra tốt đẹp".[25]

Khi câu lạc bộ xuống League One và được Danny Wilson dẫn dắt, Collins thiết lập cặp trung vệ hiệu quả với Harry Maguire trong mùa giải 2011–12, đồng thời được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất tháng 9 năm 2011 do cổ động viên bình chọn.[26] Ông ghi bàn đầu tiên cho Blades vào tháng 2 năm 2012, trong chiến thắng 1–0 trước đối thủ vùng Yorkshire Huddersfield Town tại Galpharm.[27] Collins tiếp tục là trụ cột ở hàng phòng ngự, nhưng United lỡ suất thăng hạng trực tiếp khi kém đối thủ cùng thành phố Sheffield Wednesday ba điểm, rồi thua Huddersfield trong chung kết play-off tại Sân vận động Wembley; trận đấu kết thúc với tỉ số hòa 0–0, và dù Collins thực hiện thành công quả luân lưu, đội bóng của ông vẫn thua 7–8 trong loạt sút này.[28]

Khi câu lạc bộ vẫn thi đấu tại League One, Collins tiếp tục là lựa chọn hàng đầu ở trung tâm hàng phòng ngự cùng Maguire, đồng thời đeo băng đội trưởng trong thời gian Michael Doyle vắng mặt. Trong nửa đầu mùa giải 2012–13, Collins bắt đầu ghi bàn đều đặn, có năm bàn tính đến đầu tháng 12 khi United cạnh tranh suất thăng hạng trực tiếp. Tháng 11, ông gia hạn hợp đồng hiện tại thêm hai năm đến năm 2015, kèm tùy chọn gia hạn thêm một năm.[29] Phong độ tốt của ông bị gián đoạn khi ông bị gãy xương gò má trong trận đấu với Scunthorpe United vào cuối tháng 12, chấn thương khiến ông phải nghỉ thi đấu hai tháng.[30] Ông có 45 lần ra sân trong cả mùa giải, khi United lập kỉ lục câu lạc bộ với 21 trận giữ sạch lưới; tuy nhiên, đội bóng chỉ có thể vào đến bán kết play-off.[31]

Ông ghi hai bàn sau 55 lần ra sân ở mùa giải 2013–14 và được chọn vào Đội hình tiêu biểu của tuần tại Football League sau khi giúp United giành hai chiến thắng liên tiếp 1–0 trên sân khách trước Colchester UnitedMilton Keynes Dons, nằm trong chuỗi tổng cộng 450 phút thi đấu tại League One mà đội bóng không để thủng lưới.[32]

Ông mất vị trí trong đội một của United vào đầu mùa giải 2014–15 và không còn nằm trong kế hoạch đội một của huấn luyện viên Nigel Clough, sau khi không ra sân thêm lần nào kể từ sau tháng 10.[33] Dù vậy, ông tuyên bố sẽ ở lại câu lạc bộ, nói rằng ông có sự gắn bó với đội bóng.[34] Ngày 26 tháng 3 năm 2015, ông gia nhập đối thủ cùng hạng League One Port Vale theo dạng cho mượn đến hết mùa giải.[35] Huấn luyện viên Rob Page ký hợp đồng với ông vào ngày cuối của kỳ chuyển nhượng, và Collins sau đó nói rằng "tôi đã có một khởi đầu khó khăn... nhưng tôi dần bắt nhịp với mùa giải, chúng tôi trụ hạng và tôi thật sự tận hưởng quãng thời gian đó".[36]

Sau khi Nigel Clough rời ghế huấn luyện viên, Collins được huấn luyện viên mới Nigel Adkins đưa trở lại đội một trong mùa giải 2015–16.[37] Ông được chọn vào Đội hình tiêu biểu của tuần tại Football League sau khi ghi bàn bằng cú đánh đầu trong chiến thắng 2–0 trên sân của Swindon Town, đồng thời nhận được lời khen cho cặp trung vệ với David Edgar.[38]

Tampa Bay Rowdies

Ngày 11 tháng 3 năm 2016, Collins được Sheffield United chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận chung để ông có thể ký hợp đồng hai năm với Tampa Bay Rowdies của North American Soccer League.[39][40] Huấn luyện viên trưởng Stuart Campbell dẫn dắt Rowdies kết thúc ở vị trí thứ chín trên bảng xếp hạng tổng hợp năm 2016. Collins ra sân 33 lần trong mùa giải 2017, khi Rowdies đứng thứ ba tại United Soccer League.

Sự nghiệp quốc tế

Collins có bảy lần khoác áo U-21 Scotland.[41] Ngày 20 tháng 11 năm 2007, ông thi đấu cho Scotland B trong trận hòa 1–1 với Cộng hòa Ireland B tại Sân vận động Excelsior; ông vào sân từ ghế dự bị thay cho Darren Dods sau hiệp một.[42]

Sự nghiệp huấn luyện

Tampa Bay Rowdies

Ngày 18 tháng 5 năm 2018, Collins được thăng chức làm huấn luyện viên tại Tampa Bay Rowdies[43] sau khi gây ấn tượng với chủ tịch Bill Edwards bằng sự nhiệt huyết và tinh thần làm việc của mình.[44] Rowdies kết thúc mùa giải 2018 ở vị trí thứ 12 trên bảng xếp hạng USL Eastern Conference trong hoàn cảnh khó khăn, với việc Collins nhận xét rằng "chúng tôi có các cầu thủ giải nghệ vì nhiều lý do khác nhau, có người dính chấn thương nặng, rồi những vấn đề ngoài sân cỏ khác, mọi chuyện cứ nối tiếp nhau".[45] Đội bóng kết thúc mùa giải 2019 ở vị trí thứ năm, trước khi thua Louisville City FC 1–2 tại tứ kết Conference.[46] Rowdies dẫn đầu bảng trong mùa giải 2020, mùa giải bị kết thúc sớm và được phân định theo điểm trung bình mỗi trận do đại dịch COVID-19 tại Hoa Kỳ. Vòng play-off vẫn tiếp tục và Tampa lọt vào trận chung kết Championship gặp Phoenix Rising FC. Tuy nhiên, trận chung kết bị hủy một ngày trước thời điểm dự kiến diễn ra vì một số cầu thủ và nhân viên của Tampa Bay Rowdies có kết quả xét nghiệm dương tính với COVID-19; danh hiệu vô địch vì thế không được trao.[47]

Collins được vinh danh là Huấn luyện viên của năm tại USL Championship sau khi đội bóng của ông giành 23 chiến thắng để dẫn đầu Eastern Conference trong mùa giải thường niên 2021.[48] Ông cũng được bầu là Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng cho giai đoạn tháng 4 / tháng 5 và tháng 9, sau khi đạt thành tích thắng 100% trong cả hai giai đoạn và lập kỉ lục giải đấu với 891 phút không để thủng lưới.[49][50] Tại vòng play-off, Tampa đánh bại FC Tulsa, Birmingham Legion FCLouisville City FC, trước khi thua Orange County SC 1–3 trong trận chung kết.[51]

Ông được bầu là Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng 7 năm 2022 sau khi dẫn dắt đội bóng giành năm chiến thắng, qua đó kéo dài chuỗi bất bại của câu lạc bộ lên 13 trận; ông ghi nhận công lao thuộc về các cầu thủ, trong đó nhắc đến tân binh Jake LaCava.[52] Rowdies giành quyền tham dự vòng play-off sau khi đứng thứ ba trên bảng xếp hạng Eastern Conference 2022; đội sau đó thua trận chung kết Conference với tỉ số 0–1 trước Louisville City FC.[53]

Barnsley

Ngày 6 tháng 7 năm 2023, Collins trở lại Anh khi được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ League One Barnsley theo hợp đồng hai năm.[54] Ông dẫn dắt đội giành chiến thắng 7–0 trước Port Vale trong trận đầu tiên nắm quyền, thất bại ngày khai mạc nặng nề nhất của bất kỳ đội bóng nào tại EFL kể từ mùa giải 1962–63 hơn 60 năm trước.[55] Đội bóng của ông duy trì vị trí trong tốp sáu từ ngày 3 tháng 10 cho đến khi ông rời câu lạc bộ.[56] Ngày 22 tháng 4 năm 2024, Collins bị sa thải sau chuỗi phong độ đáng thất vọng, khi Barnsley vẫn đang nằm trong nhóm dự play-off ở vị trí thứ năm và mùa giải 2023–24 chỉ còn một trận.[57]

Raith Rovers

Ngày 3 tháng 9 năm 2024, Collins ký hợp đồng ba năm để trở thành huấn luyện viên trưởng của đội bóng Scottish Championship Raith Rovers,[58] thay thế Ian Murray.[59]

Sacramento Republic

Ngày 21 tháng 12 năm 2024, Collins rời Raith Rovers để dẫn dắt Sacramento Republic FC tại USL Championship.[60] Republic kích hoạt điều khoản bồi thường trong hợp đồng của Collins để thực hiện lựa chọn này.

Phong cách thi đấu

Viết trên The Guardian năm 2007, Steve Claridge so sánh Collins với Tony Adams, mô tả ông là cầu thủ "mạnh mẽ và chắc chắn", có kĩ năng chọn vị trí và tổ chức tốt.[61] Collins mô tả khả năng đánh đầu là điểm mạnh nhất trong lối chơi của mình.[3]

Thống kê sự nghiệp

Thống kê thi đấu

Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia[a] Cúp liên đoàn[b] Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Queen's Park 2000–01[62] Scottish Second Division 4 0 4 0
2001–02[63] Scottish Third Division 28 0 2 0 1 0 0 0 31 0
Tổng cộng 32 0 2 0 1 0 0 0 35 0
Dumbarton 2002–03[64] Scottish Second Division 33 2 1 0 1 0 3[c] 0 38 2
2003–04[65] Scottish Second Division 30 2 1 0 2 0 1[c] 0 34 2
Tổng cộng 63 4 2 0 3 0 4 0 72 4
Sunderland 2004–05[66] Championship 11 0 2 0 1 0 14 0
2005–06[67] Premier League 0 0 2 1 2 1
2006–07[68] Championship 7 1 1 0 8 1
Tổng cộng 18 1 4 1 2 0 24 2
Hartlepool United (mượn) 2005–06[67] League One 22 0 0 0 2 0 1[d] 0 25 0
Sheffield United (mượn) 2005–06[67] Championship 2 0 2 0
Wolverhampton Wanderers 2006–07[68] Championship 22 2 3 0 2[e] 0 27 2
2007–08[69] Championship 39 3 2 1 1 0 42 4
2008–09[70] Championship 23 4 2 0 2 0 27 4
2009–10[71] Premier League 0 0 1 0 1 0
Tổng cộng 84 9 7 1 4 0 2 0 97 10
Preston North End 2009–10[71] Championship 21 1 1 0 0 0 22 1
Leeds United 2009–10[71] League One 9 0 9 0
2010–11[72] Championship 21 0 0 0 2 0 23 0
Tổng cộng 30 0 0 0 2 0 32 0
Sheffield United 2010–11[72] Championship 14 0 14 0
2011–12[73] League One 42 2 4 0 2 0 6[f] 0 54 2
2012–13[74] League One 39 4 3 0 1 1 2[e] 0 45 5
2013–14[75] League One 44 2 8 0 1 0 2[d] 0 55 2
2014–15[76] League One 8 1 0 0 3 0 1[d] 0 12 1
2015–16[77] League One 30 3 3 0 1 1 0 0 34 4
Tổng cộng 177 12 18 0 8 2 11 0 214 14
Port Vale (mượn) 2014–15[76] League One 7 0 7 0
Tampa Bay Rowdies 2016[78] NASL 22 1 2 0 24 1
2017[78] USL 30 2 1 0 2[g] 0 33 2
2018[78] USL 9 0 1 0 10 0
Tổng cộng 61 3 4 0 0 0 2 0 67 3
Tổng cộng sự nghiệp 517 30 38 2 22 2 20 0 597 34
  1. ^ Bao gồm Cúp bóng đá Scotland, Cúp FA, U.S. Open Cup
  2. ^ Bao gồm Scottish League Cup, Football League Cup
  3. ^ a b Lần ra sân ở Scottish Challenge Cup
  4. ^ a b c Lần ra sân ở Football League Trophy
  5. ^ a b Lần ra sân ở play-off
  6. ^ 3 lần ra sân ở Football League Trophy và 3 lần ra sân ở play-off.
  7. ^ Lần ra sân ở play-off USL Cup

Thống kê huấn luyện

Tính đến trận đấu diễn ra vào ngày 28 tháng 6 năm 2025
Thành tích huấn luyện theo đội bóng và nhiệm kỳ
Đội bóng Từ Đến Thành tích
St T H B % Thắng
Tampa Bay Rowdies 18 tháng 5 năm 2018 8 tháng 7 năm 2023 &0000000000000176000000176 &000000000000009700000097 &000000000000003400000034 &000000000000004500000045 0&000000000000005510000055,1
Barnsley 9 tháng 7 năm 2023 22 tháng 4 năm 2024 &000000000000005200000052 &000000000000002400000024 &000000000000001400000014 &000000000000001400000014 0&000000000000004620000046,2
Raith Rovers 3 tháng 9 năm 2024 21 tháng 12 năm 2024 &000000000000001500000015 &00000000000000060000006 &00000000000000030000003 &00000000000000060000006 0&000000000000004000000040,0
Sacramento Republic 21 tháng 12 năm 2024 present &000000000000001800000018 &00000000000000070000007 &00000000000000050000005 &00000000000000060000006 0&000000000000003889999938,9
Tổng cộng &0000000000000261000000261 &0000000000000134000000134 &000000000000005600000056 &000000000000007100000071 0&000000000000005129999951,3

Danh hiệu

Cầu thủ

Sunderland

Wolverhampton Wanderers

Leeds United

Huấn luyện viên

Cá nhân

Tampa Bay Rowdies

  1. ^ Trận tranh chức vô địch bị hủy do bùng phát COVID-19 trong đội Tampa Bay Rowdies.

Tham khảo

  1. ^ "Neill Collins". Barry Hugman's Footballers.
  2. ^ a b "FootballSquads - Port Vale - 2014/2015". www.footballsquads.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2021.
  3. ^ a b The Art of Heading Lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2018 tại Wayback Machine neillcollins.com
  4. ^ "Collins relishes dream game". Express and Star (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2020. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  5. ^ Berry, Gavin (ngày 1 tháng 11 năm 2020). "Scot Neill Collins takes charge of Tampa Bay Rowdies in showpiece game". Daily Record (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2021. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  6. ^ "Neill Collins' career so far". Barnsley Chronicle (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2023. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  7. ^ McAllister, Jim (2002). The Sons of the Rock - The Official History of Dumbarton Football Club. Dumbarton: J&J Robertson Printers.
  8. ^ "Sara fails to win move". BBC Sport. ngày 25 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2003.
  9. ^ "Charlton want Collins". BBC Sport. ngày 21 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2003.
  10. ^ About Me Lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2018 tại Wayback Machine neillcollins.com
  11. ^ "Player of the Day: Neill Collins". safc.com. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  12. ^ "Collins pens Sunderland extension". BBC Sport. ngày 24 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  13. ^ "Collins joins Hartlepool on loan". BBC Sport. ngày 12 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2005.
  14. ^ "Sheff Utd sign defender Collins". BBC Sport. ngày 18 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2006.
  15. ^ Lyall, Jamie (ngày 4 tháng 1 năm 2020). "Neill Collins: Roy Keane, Joe Cole & managing in Florida". BBC Sport. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2020. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  16. ^ "Wolves loan Black Cat". Sky Sports. ngày 2 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2006.
  17. ^ Keane, Roy (2014). The Second Half. Orion. tr. 148. ISBN 9780297608882.
  18. ^ "Sunderland's Collins joins Wolves". BBC Sport. ngày 5 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2007.
  19. ^ "Dropping Collins hurt - Mick". Express & Star. ngày 18 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2015.
  20. ^ "Collins ties up move to Preston". BBC Sport. ngày 1 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  21. ^ "Preston North End sign Wolverhampton's Neill Collins". BBC Sport. ngày 5 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2010.
  22. ^ "Leeds sign Preston defender Neill Collins on loan". BBC Sport. ngày 23 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  23. ^ "Preston defender Neill Collins joins Leeds United". BBC Sport. ngày 7 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  24. ^ "Neill Collins leaves Leeds United for Sheffield United". BBC Sport. ngày 31 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  25. ^ The phone is not ringing Lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2018 tại Wayback Machine neillcollins.com
  26. ^ "Neill nets monthly award at the Lane". The Sheffield Star. ngày 7 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2011.
  27. ^ "Huddersfield Town Sheffield United". BBC Sport. ngày 14 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2012.
  28. ^ "Huddersfield 0 - 0 Sheffield United". ngày 26 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2015.
  29. ^ "Sheffield United defender Neill Collins extends contract". BBC Sport. ngày 9 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2012.
  30. ^ "Shaun Miller out for the season". BBC Sport. ngày 28 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2013.
  31. ^ Only as good as your strikers Lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2019 tại Wayback Machine neillcollins.com
  32. ^ "Sky Bet Football League Team of the Week 24/02/14 - 02/03/14". www.efl.com (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2019. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  33. ^ "Rob Page says treble signing shows Vale aim to finish season in style". The Sentinel. ngày 26 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2015.
  34. ^ "Sheffield United: Neill Collins breaks his silence". Sheffield Telegraph. ngày 20 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2015.
  35. ^ "Collins, Junior and Coulibaly make move to Port Vale on loan". BBC Sport. ngày 26 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015.
  36. ^ "Collins 'can't wait' for opener against former club and coach". Barnsley Chronicle (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2023. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  37. ^ "Neill Collins set for Blades chance as manager Nigel Adkins wipes slate clean". Sheffield Telegraph. ngày 5 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2015.
  38. ^ Butcher, Alex (ngày 1 tháng 9 năm 2015). "Sky Bet Football League Team of the Week". www.efl.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2019. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  39. ^ "Veteran Defender Neill Collins Joins Tampa Bay Rowdies". RowdiesSoccer.com. ngày 11 tháng 3 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016.
  40. ^ "Neill heads Stateside". SUFC.co.uk. ngày 11 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016.
  41. ^ McLaughlin, Lee (ngày 11 tháng 2 năm 2007). "Neill: I'd really like to play in the Park again". Chủ Nhật Mercury. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2015.
  42. ^ Lindsay, Clive (ngày 20 tháng 11 năm 2007). "Scotland B 1-1 Rep of Ireland B". BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2015.
  43. ^ Neill Collins: Roy Keane, Joe Cole & managing in Florida, BBC Sport, 4 tháng 1 năm 2020
  44. ^ Kennedy, Will (ngày 18 tháng 5 năm 2018). "Rowdies transition defender Neill Collins to head coach". Tampa Bay Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  45. ^ "Paul Berry: Neill Collins putting the art of timing into practice having learnt from the best". Express and Star (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2020. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  46. ^ "Louisville City FC vs. Tampa Bay Rowdies - July 26, 2019 | USLChampionship.com". www.uslchampionship.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2019.
  47. ^ "USL Championship final Cancelled, Season Concludes with Tampa Bay, Phoenix as Conference Title-Winners". USLChampionship.com. ngày 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2020.
  48. ^ a b c "Tampa Bay's Neill Collins Voted Championship's Coach of the Year". USL Championship (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2022. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  49. ^ a b "Tampa Bay's Collins Voted Championship's Coach of the Month". USL Championship (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2022. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  50. ^ a b "Tampa Bay's Neill Collins Voted Championship's Coach of the Month". USL Championship (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2022. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  51. ^ a b "Match Center | USLChampionship.com". www.uslchampionship.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2022.
  52. ^ a b USLChampionship com Staff (ngày 10 tháng 8 năm 2022). "Tampa Bay Rowdies' Neill Collins voted USL Championship Coach of the Month". USL Championship (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2023. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  53. ^ "Match Center | USLChampionship.com". www.uslchampionship.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2023. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  54. ^ "Neill Collins Appointed As Head Coach". www.barnsleyfc.co.uk. ngày 6 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2023.
  55. ^ Youlton, Clive (ngày 5 tháng 8 năm 2023). "Disastrous opening day for Port Vale as Barnsley hit seven". StokeonTrentLive (bằng tiếng Anh). {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  56. ^ "Neill Collins: Barnsley sack head coach with one game to play". BBC Sport. ngày 22 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2024. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  57. ^ "Neill Collins Departs Oakwell". Barnsley F.C. (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2024. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  58. ^ Fowlie, Grace (ngày 3 tháng 9 năm 2024). "Welcome, Neil Collins!". Raith Rovers FC. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2024. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  59. ^ "Neil Collins: Raith Rovers appoint former Barnsley boss as manager". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2024.
  60. ^ "Manager Collins leaves Raith to join Sacramento Republic". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2024.
  61. ^ Claridge, Steve (ngày 13 tháng 3 năm 2007). "Neill Collins, Wolverhampton Wanderers". The Guardian. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  62. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2000/2001". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  63. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2001/2002". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  64. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2002/2003". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  65. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2003/2004". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  66. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2004/2005". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  67. ^ a b c "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2005/2006". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  68. ^ a b "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2006/2007". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  69. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2007/2008". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  70. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2008/2009". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  71. ^ a b c "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2009/2010". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  72. ^ a b "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2010/2011". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  73. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2011/2012". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  74. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2012/2013". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  75. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2013/2014". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  76. ^ a b "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2014/2015". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  77. ^ "Trận thi đấu của Neill Collins trong 2015/2016". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  78. ^ a b c Neill Collins tại Soccerway

Bản mẫu:Huấn luyện viên trưởng USL Championship

Content Disclaimer

Informasi ini disarikan dari Wikipedia dan disajikan kembali untuk tujuan edukasi. Konten tersedia di bawah lisensi CC BY-SA 3.0. Kami tidak bertanggung jawab atas ketidakakuratan data yang bersumber dari kontribusi publik tersebut.

  1. The information displayed on this website is sourced in part or in whole from Wikipedia and has been adapted for the purpose of restating it. We strive to provide accurate and relevant information, however:
  2. There is no guarantee of absolute accuracy. Wikipedia is an open, collaborative project that can be edited by anyone, so information is subject to change.
  3. It is not intended to constitute professional advice. The content displayed is for informational and educational purposes only. For important decisions (e.g., medical, legal, or financial), please consult a professional.
  4. Content copyright. Wikipedia is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike License (CC BY-SA). This means that content may be reused with appropriate attribution and shared under a similar license.
  5. Responsible use. Any risk arising from the use of information from this website is entirely the responsibility of the user.